Bè lũ lụt đô thị đã trở thành thường niên. Nghịch lý của quy hoạch còn phổ quát. Nổi bật ở châu Á và Đông Nam Á, Việt Nam sẽ là tổ quốc chịu hiện trạng đồng minh lụt thành phố ngày càng tăng cao do chuyển đổi khí hậu và công đoạn bê tông hóa đô thị bằng cách xóa bỏ hệ sinh thái nước và vùng ven đô càng ngày càng thông thường.

Tình trạng ngập tại khu vực phía Tây TP Hà Nội.
Quy hoạch còn vào vai trò đoàn kết vùng về thiên nhiên, địa hình, khu sinh thái nước, các mai mối vấn đề tiết nước, đê chắn, kè dẫn, hồ chứa và các môi trường “dành đầu tiên” ngập ít, phổ biến, thời điểm ngập… để giải cứu các khu vực cần thiết của đô thị. Chính vì lẽ đó, các lý thuyết mới nhất coi nước mưa và nước mặt (kể cả nước lụt) là vốn khoáng sản quí giá của đô thị văn minh.
Trong khoảng vẻ đẹp vĩnh cửu của đô thị nước…
Sự hòa quyện giữa thiên nhiên và thành phố vốn là thực chất của quy hoạch thị trấn khi coi trọng sự linh nghiệm của nơi cư trú đồng nghĩa với kết nối các hệ sinh thái đã nuôi dưỡng loài người từ những bộ lạc hoang dã thành các quốc gia hùng mạnh với dân số bây giờ tiến gần mốc 7 tỷ người. Nhân tố đáng lưu ý là phần lớn các đô thị lớn tí hon thây mặt cho các nền văn minh cổ truyền đều gắn với các dòng sông mẹ (nền tân tiến Lưỡng Hà với Babylone, Assyrie, Phenicie bên sông Euphrates và Tigris, Bạn nào Cập với Thebes, Memphis bên sông Nile, sông Hằng với nền tân tiến Ấn Độ, sông Hoàng Hà, Dương Tử với văn minh Trung Hoa). Chính vì thế, mọi lý thuyết quy hoạch thành phố ban đầu đều tạo lập cho được sự thăng bằng (nội tại) giữa nhân tố nhân tạo do nhân loại với yếu tố tự nhiên, mở đầu là ứng xử với những hệ sinh thái nước: Dòng sông, hồ, biển, đầm phá, kênh rạch, vùng đất ngập nước, rừng ngập mặn.
Những thị trấn cổ kính thường lựa chọn những khu đồi thấp, sống đất cao, giồng nổi bên các con sông lớn để dễ ợt cho việc trồng trọt, chế biến và dựng công trình. Họ chống ngập bằng phương pháp tựa tham gia địa hình tự nhiên khi diện tích còn nhỏ xíu. Dần dần chúng phình to ra và trở thành các trung tâm chính trị - hành chính của lãnh thổ, quốc gia ghi lại bằng thành lũy cứng cáp, lâu đài, dinh thự và các nhà cửa tôn giáo… được lựa chọn rất kỹ về địa lý để sống chung với tự nhiên, trước nhất là nương vào quy luật lên xuống theo mùa bè lũ trong khoảng sông mẹ. Sự tương tác sinh thái hàng ngàn năm giữa cư trú - nước đã cho ra đời hàng loạt các thị trấn sông nước với vẻ đẹp vĩnh cửu Paris, Budapest, London, Amsterdam… chưa kể đến các thành phố Hoa Phượng đỏ hồ, đảo thị trấn.
Đến quy hoạch duy lý và những nghịch lý buộc thay đổi
Giai đoạn tiến bộ (cuối thế kỷ 19 tới những năm 60 TK 20), cách mạng kĩ nghệ đã cho nhân loại khiến chủ vận mệnh các đô thị (item nhân tạo lớn nhất) bằng hồ hết công cụ khoa học xây dựng và hạ tầng: Đập lớn, đê hồ, cống ngầm, liên lạc lập thể, cầu siêu dài, cưỡng dâm địa hình, các con phố cao tốc, rừng nhà cao tầng… Cũng là lúc các thị trấn “quên” căn tính gốc thiên nhiên của mình, phát triển ngược quy luật thiên nhiên, nặng nề hà nhất là tiêu diệt chuỗi hệ thống sinh thái nước luôn bao bọc chúng trong khoảng ngàn đời. Thành phố phát hành cả chiều rộng và chiều cao, đậm đặc. Quy hoạch mở đầu hình thành với chủ nghĩa duy lý thời Le corbusier “thay trời hành đạo”, đưa đô thị lan tỏa liếm hết vùng nông nghiệp ven đô, chặn ngang các dòng sông, lấp số đông các đại dương ao kênh rạch làm cho nhà cao tầng, đường cao tốc, phá rừng núi khiến khu nghỉ ngơi, công nghệ, nguyên liệu xây dựng…

Số lượng các trận lụt được thông báo trên thế giới. (Nguồn: Báo cáo từ EM-DAT/CRED)
Đỉnh cao những năm 60 là quy hoạch đưa 3 triệu dân Tokyo ra cư trú trên vịnh đại dương (Kenzo Tange); Những năm 90 - 2000 là quy hoạch Dubai lấn hồ để trở thành thị trấn du hí, xa hoa bậc nhất (chỉ tính riêng đảo Cành Cọ đã dùng đến 94 triệu tấn cát lấp hồ).
Ở Việt Nam thị trấn hóa kèm với cao trào bê tông hóa cũng nhức nhói. Theo thống kê tới 2010 Thủ đô, thành phố bên trong của bốn dòng sông đã cống hóa ba dòng và xóa sổ hơn 90% mặt nước tự nhiên lấy đất cho thị trấn. Sài Gòn đang thị trấn hoá chóng mặt có thể đạt đến 850km2 xây đắp tham gia năm 2025, đã lấp 47 kênh rạch chính và chuỗi hệ thống biển trữ nước thiên nhiên quý giá, điển nghe đâu hồ Bình Tiên. Loài người đã hủy hoại chính không gian sinh thái nước bao bọc nơi trú ngụ của bản thân mình từ thủơ hồng hoang chỉ trong một vài thập kỷ.
Lấy mốc năm 1921, triển lãm “Đô thị tương lai” tại Ý đã mở đầu cho thời đại thị trấn và cho thành lập các Bộ luật quy hoạch chuẩn y “xóa sổ” tự nhiên và tiến bộ cư trú truyền thống, ở số đông các nước phát hành kĩ nghệ thời đó.
Loài người của thế kỷ 20 đã chặt đứt với quá khứ nhân danh hiện đại, khí cụ quy hoạch thị trấn góp phần không tí hon. Quy hoạch đã thành văn hóa thống trị của các nhà cầm quyền và sự kì vọng hão huyền của đám đông khi nó vẽ ra những viễn tượng không tưởng nhưng huy hoàng của 10, 20 năm nữa, từ một đội ngũ bé bỏng các KTS và nhà kỹ thuật.

Các không gian phát hành của TP HCM nằm trong vực có không may ngập cao. (Nguồn: Đánh giá dựa trên xác định phương hướng sản xuất không gian của TP HCM và phiên bản đồ dự đoán ngập nghiêm trọng của ADB năm 2010)
Mẹ thiên nhiên nổi xung, các đô thị đang phải vật lộn với bão bọn, lụt lội tới mức nước có thể nhấn chìm đô thị. Châu Á nổi lên như một châu lục sẽ hứng chịu phổ thông thiên tai nhất trong chuyển đổi khí hậu do chiếm hữu quá nhiều non sông đảo, bán đảo chìa ra với hồ: Nhật Phiên bản, Philipines, Đài Loan, Indonesia, Singapore, Triều Tiên, Hàn Quốc, vietnam… Yếu tố đáng ngại là những đô thị lớn - đầu não đều nằm kế cận với đại dương, bờ biển và các dòng sông cả nên càng sản xuất lại càng chịu rộng rãi thiên tai với mức tiêu diệt rất lớn. Giới thị trấn học chẳng thể quên những trận bạn hữu kinh hoàng cuốn trôi hàng chục đô thị và làng mạc ở Hàn Quốc thập niên 60 lên tới hơn 20.000 người chết sau khi bị phá trụi rừng già và cống hóa các dòng sông vì kĩ nghệ bẩn. Năm 2011, bạn hữu lụt trên diện rộng đã đông đảo nhấn chìm Bangkok làm cho hàng chục triệu người không nhà và gần 500 người chết, Chính phủ phải cứu trợ khẩn cấp 4 tỷ đô.

Bản đồ nguy cơ ngập lụt trái đất. (Nguồn:World Resouce Institute (WRI) năm 2012)
TP HCM dự trù phải cần hơn 100.000 tỷ ứng phó lụt lội, trong đó còn phổ thông nhân tố sinh kế cho nguồn thu nhập nhập thấp cần tính đến trước tiên.
Bè đảng lụt thị trấn đã biến thành thường niên và loài người è đi làm cho để trả nợ tự nhiên bằng các chi tiêu đắt đỏ chống ngập lụt với con số hàng tỷ, chục tỷ đô la Mỹ. Nghịch lý của quy hoạch còn phổ quát nhưng nổi trội ở châu Á và Đông Nam Á, vn sẽ là non sông hứng chịu trạng thái đồng đội lụt thị trấn ngày càng tăng cao do biến đổi khí hậu và khác biệt, sau những công đoạn bê tông hóa đô thị bằng phương pháp xóa bỏ hệ sinh thái nước và vùng ven đô ngày một sản xuất.
Trở lại với mẹ tự nhiên - biến nước đồng đội thành tài nguyên đô thị
Quy hoạch phải từ bỏ cách thức khiến cho truyền thống (dựng ra viễn tượng) để tập trung tham gia cục bộ quá trình phát hành của phường hội và thị trấn. Quy hoạch yêu cầu thay đổi cách thức tiếp xúc và cách thức: Góc nhìn và các kế hoạch đi đôi với chính sách sản xuất thay quy hoạch kiểu cũ xơ cứng trên giấy hứa hứa một mộng tưởng thành phố hơn là mai sau hiện hữu đang dùng tại vn. Các sách lược phát triển thị trấn phải gắn với lợi quyền tầm thường của tập thể cư dân và bảo đảm không gian sống cơ bản cho họ, thay vì chạy theo lợi nhuận trước mắt. Cần thiết dùng bí quyết tích thích hợp các sáng kiến chống ngập thị trấn trong giải pháp phát hành ngắn, trung hạn là item của bộ ba: chính quyền, thị trường và công dân cùng nhập cuộc như những chủ thể thị trấn. Thay thế các quy hoạch toàn cục mỗi ngành nghề một kiểu đang khiến cho phân tán nguồn lực đô thị (vốn luôn hạn hẹp) bằng các biện pháp tích phù hợp để đồng bộ hóa cơ thể đô thị: Dùng đất, kiến trúc, chống ngập, liên lạc, năng lượng, cấp thoát nước, điện, viễn thông, thực phẩm…
Sử dụng công nghệ chống ngập bằng Mô hình thủy văn thị trấn - thuật ngữ thế kỷ 21. Kỹ thuật đô thị sực tỉnh giấc và nghiêm túc đánh giá rộng rãi năm 3 vùng thiên tai lớn trên trái đất (Mỹ, Nam Mỹ và Đông Nam Á) trong biến dổi khí hậu đã đưa ra ba phản hồi:
- Các tòa tháp kiểm soát an ninh (đê bao, bờ kè, đại dương chứa, kênh rạch...) hẳn nhiên chuỗi hệ thống dự đoán cho dù có tân tiến cũng chẳng thể chống đỡ hay tiên liệu hết các biến đổi khó lường, trong đó có ngập lụt lớn ở thành phố, do các vùng đô thị hóa đang lan tỏa chóng mặt.
- Công tác quy hoạch và điều hành môi trường đô thị bị tác động quá nhiều trong khoảng nhân tố kinh tế ngắn hạn dẫn đến việc định cư dồn vào một chỗ, sản xuất tại các khu vực trọng tâm kể cả cận trung tâm sẽ có mức rủi ro ngập cao và khó lường.
- Kiếm được thức và khả năng tự ứng phó của đồng đội dân cư nhập vai trò rất cần thiết trong chừng thiệt hại khi xảy ra các biến cố.
Như vậy, các biện pháp thuần túy công nghệ và cưỡng bách dòng chảy (kể cả khi có một đống tiền) gặp gỡ phải thuyệt vọng tại những thời điểm bất thường của thời tiết tần suất ngày một phổ thông, đồng nghĩa loài người và tài sản thị trấn lại gặp hiểm họa cao nhất. Mặt khác, thành phố càng ngày càng ô nhiễm cả đất, không khí và nước (do tích tụ dân số và mật độ xây dựng quá vận chuyển, giao thông bằng cá nhân, giỏ bê tông và chẳng thể thoát thải).
Ra đời muộn màng sau thị trấn hóa, khoa học thủy văn thành phố tuy mới mẻ đã nhanh chóng dẫn hướng cho các kế hoạch sản xuất thành phố trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các nhà phân tích quan tâm đến việc khiến thế nào một thành phố có khả năng tự yếu tố chỉnh (cả hệ thống) để có thể duy trì hoạt động và “đứng dậy” một phương pháp gấp rút sau sự “tấn công”của đàn lụt, tiếp diễn phát hành.
Ý kiến này bắt đầu khởi nguồn từ khoảng thập niên 70 với những người đi đầu như Holling C.S (chú tâm vào hệ sinh thái). Sau đó, nhiều tác giả khác đã mở mang về tài năng hồi phục nhanh của thị trấn sau thảm họa (“urban resilience”). Hiện thời, rộng rãi tìm hiểu sâu về chuyên môn vào thủy văn đô thị như H. Andrieu, B Tassin, S Baraud nhấn mạnh đến tạo lập vòng tuần hoàn nước trong đô thị như một cứu cánh mai sau. Những thấp thỏm ngày càng tăng về vệ sinh thành phố, không gian sống, khác biệt phòng chống bọn, ngập đô thị đã buộc các quy hoạch phải tính đến sự xuất hiện của các mô hình tính toán về thủy văn đô thị.
Những nhân tố khởi nguyên của vòng tuần hoàn nước như: Bảo tàng các không gian tự nhiên sông, đại dương, đầm lầy, đất trũng để vận tải nhanh nhất có thể lượng nước mưa tiêu thoát cho thành phố. Sau đó là sự phân tí hon hơn các khu đô thị mới và môi trường xây dựng để liên hiệp giữa chúng bằng các quy mô chứa nước mặt khi mưa bọn như đại dương nhỏ bé, kênh rạch, các quảng trường, bãi đất công cộng làm cho ở cao độ thấp hơn bao quanh, bãi cỏ thiên nhiên, vườn hoa, cây xanh… thậm chí là những đoạn đường ốm có thể thoát cộng đồng khẩn cấp cạnh liên lạc lớn để đảm bảo liên lạc… Sân bay quốc tế Nội bài thiết kế một sân trũng tuyệt đẹp lớn như bãi bóng cạnh ngay lối vào chính là một chả hạn chống ngập tại chỗ. Nhưng tình trạng thành phố hóa tinh vi bây chừ ở Nam Sài Gòn thì một Phú Mỹ Hưng chưa thể khiến cho úng ngập thành phố. Nó là hệ quả của dạng đô thị kết bè mảng đặc độc đáo phía Nam và Đông Nam, không cho thị trấn “thở” là yếu tố lớn của quy hoạch. Triệt tiêu vòng tuần hoàn sinh thái của nước thì dù đổ cả núi tiền cũng không dễ dàng thoát lụt.
Quy hoạch còn vai trò liên minh vùng về thiên nhiên, địa hình, khu sinh thái nước, các mai dong điều tiết nước, đê chắn, kè dẫn, đại dương chứa và các không gian “ưu tiên” ngập ít, nhiều, thời gian ngập để giải cứu các khu vực quan trọng của thành phố. Chẳng thể kể ra hết các giải pháp quy hoạch và công nghệ tiến bộ có thể chống lụt cho tương lai…10.000 năm nữa như của vùng thị trấn hồ - sông và thấp hơn mặt biển 6m ở TP Amsterdam nhiều người biết đến. Điều khác biệt năm 2011, Hà Lan kết nối hơn 11.000 tổ chức về nước (từ đóng gói, nước máy cho đến nước thải, thoát nước, anh em lụt, nước biển, sông… đa số những gì can hệ đến nước) tham gia một mối manh Water- Net để đảm bảo tính hợp nhất tuyệt đối trong điều hành vòng tuần hoàn nước hiệu quả. Nước đã trở thành khoáng sản vô giá khi mỗi năm, hệ thống này đem đến đến 15 - 20% GDP và các ưu thế về cảnh quan, du lịch, khí hậu hàng đầu hành tinh.

Quy hoạch khu Thị trấn nổi thích ứng với ngập lụt ở TP Amsterdam, Hà Lan.
Chính vì lẽ đó, các lý thuyết mới nhất coi nước mưa và nước mặt (kể cả nước lụt) là vốn tài nguyên quí giá của thành phố bối cảnh sau văn minh. Có ba điều lớn cần đề cập:
1. Nước mưa và nước thô khi hình thành có thể làm vệ sinh cho môi trường đô thị và cần tàng trữ để làm mát khí hậu vốn bị xe pháo và bê tông làm cho ô nhiễm, nóng bức. 2. Đưa vào quy chuẩn và các đạo luật thị trấn để buộc quy hoạch và các giải pháp công nghệ cơ sở (kể cả quy dè bỉu cư dân và chuyên gia) bảo đảm vòng tuần hoàn nước được thực thi và bảo kê;
3. Hạn chế tối đa quá trình xen cấy, mở rộng thị trấn lấn chiếm hệ sinh thái nước vốn còn ít ỏi khi thị trấn hóa, nhưng nó là vết tích nguyên thủy về các con phố đi của nước cần khôi phục dần từ những diện tích nhỏ tuổi. Khi cần xen cấy đô thị, cần các nhân tố luật buộc “tách” việc xây môi trường đô thị ra khỏi sự chồng lấn lên không gian thiên nhiên (có thể còn sót lại rất bé nhỏ). Như vậy, thành phố không còn là con ngáo ộp nạt dọa hay cưỡng bức “môi trường bên ngoài” ít nhiều “tự nhiên còn sống sót”. Phải buộc các quy hoạch và nhà đầu tư tuân hành luật pháp và phạt tiền nặng để sinh ra vòng tuần hoàn nước của thành phố - gốc của chống ngập lụt thị trấn.
Tham khảo thêm: bơm công nghiệp giá rẻ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét